Home / Thông tin Y học / Chỉ định cấy ốc tai điện tử điều trị điếc

Chỉ định cấy ốc tai điện tử điều trị điếc

Chỉ định cấy ốc tai điện tử

Đối với bệnh nhân mất thính lực không giảm nhẹ được với máy nghe, cấy ốc tai điện tử có thể tạo cơ hội nghe lại được.

Đối với bệnh nhân mất thính lực không giảm nhẹ được với máy nghe, cấy ốc tai điện tử có thể tạo cơ hội nghe lại được.

 

Các nguyên nhân của điếc nặng và sâu

Di truyền:

Điếc di truyền là nguyên nhân phổ biến nhất của điếc ở trẻ em (33 – 50%); và nhiều người trong những trường hợp này có thể là do các đột biến một gen.

Nhiễm trùng:

Không viêm màng não:

Các nguyên nhân không do di truyền hoặc các nguyên nhân do môi trường chiếm 25 – 33% trong số trẻ em bị khiếm thính. Nhiễm virút Cytomegalovirus (CMV) bẩm sinh là nguyên nhân môi trường phổ biến nhất ở trẻ em khiếm thính.

10 – 15% số bệnh nhân bị “nhiễm CMV bẩm sinh không có triệu chứng” bị điếc thần kinh giác quan từ nhẹ đến sâu. Các tác nhân gây bệnh tiềm năng khác bao gồm rubella, giang mai, bệnh do toxoplasma, quai bị, và sởi.

Viêm màng não:

Nguyên nhân do viêm màng não chiếm khoảng 9% điếc trong số trẻ em bị khiếm thính và có thể gây khó khăn cho việc cấy ốc tai. Sinh vật thường gây viêm màng não (từ phổ biến nhiều nhất đến ít nhất) bao gồm Haemophilus influenzae, Streptococcus pneumoniae, và Neisseria meningitidis.

Sinh vật gây ra tỉ lệ mất thính lực cao nhất là S pneumoniae (31%). Bệnh nhân bị viêm màng não dễ bị phát triển làm tắc nghẽn lòng ốc tai (ví dụ, viêm mê nhĩ cốt hóa), đặc biệt là khi S pneumoniae là sinh vật gây bệnh.

Ngộ độc tai:

Có lẽ gây ngộ độc tai nổi tiếng nhất là các thuốc kháng sinh nhóm aminoglycoside. Khác thuốc độc tai khác thường được nêu ra bao gồm: thuốc lợi tiểu quai, erythromycin, salicylat, vancomycin, cisplatin, và quinine.

Chấn thương:

Nghe kém do chấn thương xương thái dương thường thứ phát do tụ máu màng nhĩ, thủng màng nhĩ, hoặc gián đoạn chuỗi xương con. Tai được bao bọc có khả năng chống chấn thương nhưng đôi khi gãy xương có thể liên quan đến ốc tai hoặc mê nhĩ. Tổn thương ở vỏ bao tai hầu như luôn gây điếc thần kinh thính giác sâu. Gãy xương bao 2 tai ít xảy ra nhưng là một chỉ định cho cấy ốc tai điện tử. Xơ hoặc cốt hóa trong lòng tai hoặc gãy xương bao tai, có thể làm việc luồn điện cực khó khăn hơn. Chụp hình ảnh trước phẫu thuật có thể cung cấp thêm thông tin về bệnh xơ, cốt hóa đã xảy ra.

Bilirubin máu cao:

Ở trẻ bị vàng da sơ sinh, bilirubin có thể vượt qua hàng rào máu não. Bilirubin có thể tích tụ trong nhân ốc tai bụng và gây điếc thần kinh giác quan. 33% trẻ sơ sinh với mức độ bilirubin 15 – 25mg /dL bị mất tạm thời của sóng IV và V trên ABR. Tăng bilirubin máu cũng là một yếu tố nguy cơ của bệnh thần kinh thính giác (auditory neuropathy).

Bệnh thần kinh thính giác:

Bệnh nhân bị bệnh thần kinh thính giác đặc trưng bởi chức năng tế bào lông ngoài bình thường và với bất thường hoặc không có ABR, thần kinh ốc tai tiền đình là vị trí bệnh lý của bệnh này. Chức năng tế bào lông ngoài có thể được đánh giá qua đo âm truyền ốc tai, hoặc đo thính lực đơn âm. Một khiếm khuyết trong các tế bào lông trong, các tế bào hạch xoắn hoặc các khớp nối thần kinh giữa chúng là nguyên nhân của bệnh thần kinh thính giác.

Bệnh lý thần kinh thính giác xảy ra ở cả người lớn và trẻ em.

Bệnh Meniere:

Bệnh Meniere được đặc trưng bởi chóng mặt thấy nhà quay, nghe dao động, ù tai, hay đầy tai. Chẩn đoán được thực hiện với hỏi bệnh sử và khám thực thể, cũng như chẩn đoán hình ảnh để loại trừ bệnh lý sau ốc tai. Mô học của xương thái dương sau khi chết của những người bị bệnh Meniere cho thấy giãn khoang nội dịch. Sũng nước nội dịch mô học có thể là kết quả cuối cùng của một số quá trình bệnh lý khác gây ra các triệu chứng của bệnh Meniere hoặc có thể là nguyên nhân thực sự của các triệu chứng.

Điếc do tiếng ồn:

Theo Viện Quốc gia về điếc và các rối loạn giao tiếp, 10 triệu người Mỹ bị điếc do tiếng ồn và ngoài ra hàng ngày có 30 triệu người tiếp xúc với tiếng ồn ở các mức nguy hiểm. Mất thích lực thứ phát do tiếp xúc với tiếng ồn có thể tạm thời (thay đổi ngưỡng tạm thời) hoặc vĩnh viễn (thay đổi ngưỡng vĩnh viễn). Chấn thương âm thanh bị mất thính lực ngay lập tức, vĩnh viễn sau khi tiếp xúc với các âm thanh lớn hơn 140 dB, chẳng hạn như các vụ nổ hoặc bắn súng. Các tế bào lông bên ngoài dễ bị tổn thương nhất khi tiếp xúc với tiếng ồn. Các tế bào lông bên ngoài thường sưng lên khi tiếp xúc với tiếng ồn quá mức, nhưng có thể bình thường lại nếu tiếp xúc với tiếng ồn chấm dứt.

Lão thính:

Nghe kém liên quan đến lão hóa ban đầu bắt đầu với nghe kém ở tần số cao, với sự tiến triển cuối cùng sẽ bao gồm mất cả các tần số thấp hơn. 30 – 35% người ở độ tuổi 65 bị nghe kém; con số này tăng lên đến 40 – 50% ở những người hơn 70 tuổi. Đàn ông thường bị ảnh hưởng mất thính lực do tuổi tác nhiều hơn.

Cấy ốc tai hai bên

Bệnh nhân mất thính lực một bên không được hỗ trợ nghe thường gặp khó khăn trong các tình huống nghe hàng ngày. Bất lợi đáng kể cho mất thính lực một bên cũng được biết đến và bao gồm các hiệu ứng bóng đầu (head shadow effect), khó khăn về nghe trong tiếng ồn, và định hướng âm thanh. Việc khuếch đại âm thanh (máy nghe) thường xuyên được khuyến cáo cho trẻ em và người lớn mất thính lực một bên. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh hiệu suất cải thiện đáng kể ở những bệnh nhân cấy ốc tai điện tử hai bên.

Một số lập luận đã được nêu ra để chống lại việc cấy ốc tai hai bên, bao gồm cả để dành một tai cho công nghệ tương lai hoặc sử dụng máy trợ thính với thính giác còn lại. Không ai biết khi nào các công nghệ tương lai (ví dụ, liệu pháp gen) sẽ trở nên có sẵn để sử dụng lâm sàng, và một khoảng thời gian quan trọng cho sự phát triển thính giác vẫn còn. Nghiên cứu gần đây cho thấy có một khoảng thời gian quan trọng thứ hai liên quan đến cấy hai tai có thể tồn tại. Chậm trễ đáng kể giữa lần cấy ốc tai đầu tiên và thứ hai có thể làm giảm đáng kể lợi ích trong tương lai.

Các kết quả

Các yếu tố quan trọng đối với kết quả bệnh nhi cấy ốc tai điện tử bao gồm: tuổi khởi phát của bệnh điếc và thời gian điếc trước khi cấy; sự tiến triển của mất thính lực, và môi trường giáo dục.

Nói chung, cấy sớm tạo điều kiện phát triển nhanh chóng khả năng giao tiếp nói. Điếc tiến triển đưa đến sự phát triển của các kỹ năng đọc lời nói, được ủng hộ thực hiện sau khi cấy. Học trong trường có việc giao tiếp bằng lời nói được tập trung hơn so với giao tiếp ký hiệu rất quan trọng trong việc cho kết quả cấy tối ưu. Tuy nhiên, có nhiều kết quả khác nhau và vì sao vẫn chưa được biết, có khoảng một nửa của sự khác biệt trong hiệu suất sau khi cấy không thể tiên đoán được.

Trẻ em cần được sử dụng máy nghe trước khi cấy ốc tai điện tử, bởi vì tất cả ốc tai điện tử hiện nay có một bộ xử lý âm thanh bên ngoài. Một thời gian sử dụng máy nghe để xác định phát triển khả năng giao tiếp với máy nghe là một tiêu chí quan trọng trong việc xác định “ứng cử viên” là trẻ nhỏ.

TTƯT.CKII. NGUYỄN THỊ BÍCH THỦY (dịch)

(SKĐS cuối tuần)

Chỉ định cấy ốc tai điện tử điều trị điếc

Về Nguyen Vu

Check Also

nvm5-4

Ứng dụng Hệ thống theo dõi thần kinh (Nerve Monitoring System – NVM5) giúp hạn chế 99% liệt trong phẫu thuật cột sống

NVM5 cung cấp 1 giải pháp theo dõi thần kinh có kiểm soát, theo dõi ...

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *